Ngôn ngữ có ảnh hưởng tới cách ta nghĩ, nhưng không giam cầm tư duy. Dạng mạnh của giả thuyết Sapir và Whorf, cho rằng không có từ thì không nghĩ được, hầu như đã bị bác bỏ. Dạng yếu, cho rằng ngôn ngữ làm ta chú ý, ghi nhớ và phân loại theo những cách khác nhau, có bằng chứng thực nghiệm ở một số lĩnh vực.
Chào bạn, đây là Nhà Học Thuật. Tiếng Việt dùng một chữ xanh cho cả màu trời và màu lá, trong khi nhiều thứ tiếng khác tách đôi. Vậy người Việt có thấy màu khác người Anh không. Tập này mình kể lịch sử của câu hỏi ấy, và câu trả lời của khoa học hiện nay.
Whorf, tiếng Hopi và một tuyên bố táo bạo
Ý tưởng ngôn ngữ định hình thế giới quan có gốc từ các nhà tư tưởng Đức thế kỷ mười chín. Ở Mỹ, nhà nhân học Edward Sapir và học trò của ông là Benjamin Lee Whorf phát triển nó vào đầu thế kỷ hai mươi.
Whorf vốn là kỹ sư phòng cháy cho một công ty bảo hiểm. Ông kể rằng người ta bất cẩn với những thùng xăng được ghi là rỗng, dù hơi xăng trong thùng rỗng còn nguy hiểm hơn. Chữ rỗng khiến họ nghĩ không có gì đáng sợ.
Tuyên bố nổi tiếng nhất của ông là về tiếng Hopi, một ngôn ngữ thổ dân ở Bắc Mỹ. Whorf cho rằng tiếng Hopi không có từ và cấu trúc chỉ thời gian như các thứ tiếng châu Âu, nên người Hopi hình dung thời gian khác hẳn.
Về sau, nhà ngôn ngữ học Ekkehart Malotki khảo sát kỹ tiếng Hopi và chỉ ra nó có đầy đủ cách nói về thời gian. Tuyên bố của Whorf về tiếng Hopi phần lớn bị xem là sai.
Màu sắc: chiến trường đầu tiên
Năm một nghìn chín trăm sáu mươi chín, Brent Berlin và Paul Kay khảo sát từ chỉ màu cơ bản ở nhiều ngôn ngữ, và thấy những quy luật phổ quát. Các ngôn ngữ có số từ màu khác nhau, nhưng thứ tự thêm từ khá cố định, và những màu tiêu biểu nhất mà người nói chọn khá giống nhau giữa các nền văn hoá.
Kết quả ấy được xem như đòn giáng vào thuyết tương đối ngôn ngữ: con người thấy màu giống nhau, chỉ đặt tên khác.
Nhưng các nghiên cứu sau tinh tế hơn. Tiếng Nga có hai từ cơ bản cho xanh nhạt và xanh đậm. Một nghiên cứu cho thấy người nói tiếng Nga phân biệt hai sắc xanh nằm hai bên ranh giới ấy nhanh hơn một chút so với hai sắc cùng một bên, còn người nói tiếng Anh không có lợi thế đó. Khi người tham gia phải nhẩm một chuỗi số cùng lúc, lợi thế biến mất, gợi ý rằng ngôn ngữ đang tham gia trực tiếp vào việc phân biệt.
Vậy ngôn ngữ không thay đổi đôi mắt, nhưng có thể thay đổi tốc độ và cách bộ não xếp loại những gì mắt thấy.
Nói theo đông tây nam bắc
Ví dụ ấn tượng nhất đến từ một số cộng đồng thổ dân ở Úc, như người nói tiếng Guugu Yimithirr. Ngôn ngữ của họ không dùng trái phải trước sau để chỉ vị trí, mà dùng phương hướng tuyệt đối: cái cốc ở phía bắc cái đĩa, con kiến bò trên chân phía đông của bạn.
Để nói được như vậy, người nói phải luôn biết mình đang quay hướng nào, kể cả trong nhà, kể cả trong rừng. Nhà nhân học ngôn ngữ Stephen Levinson và cộng sự ghi nhận họ định hướng chính xác đến kinh ngạc.
Trong các thí nghiệm, khi được yêu cầu sắp xếp lại đồ vật sau khi xoay người, họ giữ nguyên phương hướng tuyệt đối, còn người nói tiếng Hà Lan giữ nguyên trái phải. Đây là bằng chứng mạnh rằng thói quen ngôn ngữ đi kèm thói quen nhận thức.
Câu hỏi khó là chiều nhân quả: ngôn ngữ dạy người ta định hướng, hay môi trường sống đòi định hướng rồi ngôn ngữ phản ánh nó. Nhiều khả năng là cả hai cùng củng cố nhau.
Chữ xanh và những ví dụ từ tiếng Việt
Tiếng Việt có chữ xanh bao trùm cả xanh trời lẫn xanh lá, dù khi cần ta vẫn nói xanh da trời, xanh lá cây, xanh dương. Không có gì cho thấy người Việt kém phân biệt hai màu này. Câu hỏi thú vị hơn là ta có xếp nhóm chúng gần nhau hơn người nói tiếng Anh hay không. Đây là một câu hỏi thực nghiệm, mình chưa thấy nghiên cứu nào đủ chắc để trả lời.
Hệ thống xưng hô của tiếng Việt cũng thường được nhắc. Muốn nói một câu đơn giản với người khác, ta phải chọn anh, chị, em, cô, chú, bác, tức phải xác định quan hệ tuổi tác và thân sơ. Nhiều người cho rằng điều này khiến người nói tiếng Việt luôn để ý tới vị trí xã hội.
Đây là một giả thuyết hợp lý nhưng cần thận trọng. Văn hoá coi trọng thứ bậc có thể là nguyên nhân sinh ra hệ xưng hô, chứ không nhất thiết hệ xưng hô sinh ra cách nghĩ.
Bài học chung là đừng vội biến một đặc điểm ngôn ngữ thành lời giải thích cho tính cách dân tộc. Những câu chuyện như vậy rất hấp dẫn, nhưng thường đi trước bằng chứng.
Chỗ đứng của tranh luận hôm nay
Một số kết quả từng rất nổi tiếng về ngôn ngữ và tư duy đã không lặp lại được khi các nhóm khác làm lại. Ví dụ là nghiên cứu cho rằng người nói tiếng Quan thoại nghĩ về thời gian theo chiều dọc nhiều hơn người nói tiếng Anh, sau đó gặp khó khi tái lập.
Hiện nay, giới nghiên cứu thường đồng ý rằng ngôn ngữ không quyết định những gì ta có thể nghĩ. Ta vẫn nghĩ được về điều chưa có tên, rồi đặt tên cho nó. Nhưng ngôn ngữ có thể làm một số cách nghĩ trở nên dễ dàng, quen thuộc, tự động hơn.
Có người ví ngôn ngữ như một tập thói quen chú ý: tiếng mẹ đẻ buộc ta để ý tới một số chi tiết mỗi khi nói, như thời của động từ, giới tính của danh từ, hay quan hệ với người nghe, và lâu dần ta để ý tới chúng cả khi không nói.
Học một ngoại ngữ, vì thế, có lẽ không chỉ là học từ mới, mà là tập để ý tới thế giới theo một cách mới. Bạn đã từng thấy mình nghĩ khác đi khi nói bằng một thứ tiếng khác chưa.
Câu hỏi thường gặp
Sapir và Whorf có cùng viết ra giả thuyết này không?
Không. Cái tên giả thuyết Sapir và Whorf được người đời sau đặt. Hai ông chưa bao giờ cùng phát biểu một giả thuyết chặt chẽ, và quan điểm của mỗi người tinh tế hơn hai dạng mạnh yếu thường được kể.
Người Eskimo có hàng trăm từ chỉ tuyết không?
Đây là một huyền thoại bị thổi phồng. Các ngôn ngữ vùng Bắc Cực có nhiều cách cấu tạo từ nên con số phụ thuộc vào cách đếm, và tiếng Anh cũng có khá nhiều từ cho các loại tuyết.
Ngôn ngữ có giới tính ngữ pháp có ảnh hưởng cách nghĩ không?
Có những nghiên cứu gợi ý ảnh hưởng nhỏ lên cách người ta mô tả đồ vật, nhưng kết quả không nhất quán và một số không lặp lại được. Vấn đề này vẫn còn được tranh luận.
Người song ngữ có nghĩ khác nhau trong hai thứ tiếng không?
Nhiều người song ngữ kể rằng họ cảm thấy khác đi khi đổi ngôn ngữ, và một số thí nghiệm cho thấy cách mô tả sự kiện thay đổi theo ngôn ngữ đang dùng. Mức độ và cơ chế còn đang được nghiên cứu.
Tư duy có cần ngôn ngữ không?
Không hoàn toàn. Trẻ sơ sinh và nhiều loài vật có những dạng tư duy không cần lời. Nhưng ngôn ngữ giúp con người nghĩ những ý trừu tượng, phức tạp và chia sẻ chúng với người khác.