NhaHocThuat.comNhà Học Thuật
Triết học khoa học

Vấn đề quy nạp của Hume: lấy gì chắc mặt trời mai vẫn mọc

David Hume chỉ ra rằng ta không có lý lẽ nào không vòng vo để chứng minh tương lai sẽ giống quá khứ: mọi lập luận như vậy đều đã ngầm dựa vào chính điều cần chứng minh. Gần ba thế kỷ sau, vấn đề quy nạp vẫn chưa có lời giải được mọi triết gia chấp nhận.

Mặt trời mọc trên biển, người đi bộ một mình trên bãi cát

Vấn đề quy nạp là câu hỏi lấy gì để biện minh cho việc suy từ những điều đã quan sát sang những điều chưa quan sát. David Hume chỉ ra rằng không thể chứng minh bằng logic rằng tương lai sẽ giống quá khứ, và nếu dựa vào kinh nghiệm để chứng minh thì ta đã đi vòng tròn, vì chính việc tin vào kinh nghiệm là điều đang cần biện minh.

Chào bạn, đây là Nhà Học Thuật. Mỗi sáng bạn tin nước sẽ chảy khi mở vòi, tin cơm sẽ no, tin mặt trời sẽ mọc. Hume không bảo bạn bỏ những niềm tin ấy. Ông chỉ hỏi chúng dựa trên lý lẽ nào. Tập này mình kể vì sao câu hỏi tưởng ngây thơ ấy lại khó đến vậy.

Hume đặt câu hỏi thế nào?

David Hume là triết gia người Scotland thế kỷ mười tám. Ông trình bày vấn đề trong cuốn Khảo luận về bản tính con người, rồi viết lại gọn hơn trong cuốn Nghiên cứu về hiểu biết con người cuối thập niên bốn mươi của thế kỷ ấy.

Ông chia mọi suy luận thành hai loại. Loại thứ nhất là quan hệ giữa các ý niệm, như toán học: phủ định chúng là tự mâu thuẫn. Loại thứ hai là vấn đề thực tế, như mặt trời mọc ngày mai: phủ định chúng không có gì mâu thuẫn. Ta hoàn toàn hình dung được mặt trời không mọc.

Vậy niềm tin vào mặt trời mọc không đến từ logic thuần tuý. Nó đến từ kinh nghiệm: mặt trời đã mọc mỗi ngày từ trước tới nay. Nhưng để đi từ đã mọc sang sẽ mọc, ta cần giả định rằng tự nhiên vận hành đồng nhất, tương lai giống quá khứ.

Câu hỏi của Hume là: giả định ấy dựa vào đâu.

Cái vòng tròn không thoát được

Không thể chứng minh giả định đồng nhất bằng logic, vì như đã nói, một tự nhiên thay đổi không có gì mâu thuẫn. Còn nếu chứng minh bằng kinh nghiệm, ta sẽ nói: trước nay tự nhiên luôn đồng nhất, nên sau này cũng vậy. Nhưng đó lại là một suy luận quy nạp, dùng chính điều đang bị nghi ngờ.

Đó là vòng tròn. Hume không nói quy nạp là sai, ông nói không có lý lẽ nào biện minh cho nó mà không vòng vo.

Câu trả lời của chính Hume mang tính tâm lý: ta suy luận quy nạp vì thói quen. Thấy lửa nóng nhiều lần, tâm trí tự động chờ lửa nóng lần sau. Tự nhiên đã cài sẵn thói quen ấy trong ta, và may mắn thay, nó thường đúng. Ông thừa nhận rằng ra khỏi phòng làm việc, chính ông cũng sống như mọi người.

Câu trả lời này mô tả ta suy luận ra sao, nhưng không cho biết vì sao ta có quyền suy luận như vậy. Và vì khoa học thực nghiệm dựa trên quy nạp, câu hỏi chạm tới chính nền móng của khoa học.

Con gà của Russell và thiên nga đen

Bertrand Russell kể một câu chuyện ngắn: con gà được người chủ cho ăn mỗi sáng, ngày nào cũng vậy, nên nó tin chắc sáng mai sẽ được cho ăn. Một sáng, người chủ đến và vặn cổ nó. Russell kết luận: những quan sát đồng nhất hơn về tự nhiên lẽ ra đã có ích cho con gà.

Ví dụ nổi tiếng khác là thiên nga. Trong nhiều thế kỷ, người châu Âu chỉ thấy thiên nga trắng, và câu mọi con thiên nga đều trắng tưởng như đã được kiểm chứng vô số lần. Cuối thế kỷ mười bảy, các nhà thám hiểm châu Âu thấy thiên nga đen ở Úc.

Bài học không phải là đừng tin kinh nghiệm, mà là dù bao nhiêu quan sát ủng hộ cũng không bảo đảm tuyệt đối cho một khái quát.

Đây là chỗ Karl Popper về sau dựa vào để đề xuất rằng khoa học không chứng minh lý thuyết bằng quy nạp, mà chỉ cố bác bỏ chúng. Nhưng nhiều triết gia cho rằng Popper không thật sự thoát được Hume, vì ta vẫn phải tin lý thuyết chưa bị bác bỏ sẽ còn đúng ngày mai.

Câu đố mới của Goodman

Giữa thế kỷ hai mươi, Nelson Goodman làm vấn đề tồi tệ thêm. Ông đặt ra một từ mới, ta gọi tạm là xanh lam lục: một vật là xanh lam lục nếu nó được quan sát trước một mốc thời gian nào đó trong tương lai và có màu xanh lục, hoặc không được quan sát trước mốc ấy và có màu xanh lam.

Mọi viên ngọc lục bảo ta từng thấy đều xanh lục, và cũng đều thoả định nghĩa xanh lam lục. Vậy bằng chứng ủng hộ cả hai khái quát: mọi ngọc lục bảo đều xanh lục, và mọi ngọc lục bảo đều xanh lam lục. Nhưng hai khái quát dự đoán khác nhau cho những viên ngọc sau mốc ấy.

Câu hỏi của Goodman không còn là có nên quy nạp không, mà là quy nạp theo những khái niệm nào. Vì sao xanh lục là khái niệm tự nhiên để khái quát, còn xanh lam lục thì không. Trả lời rằng xanh lam lục có nhắc tới thời gian không giúp được, vì nhìn từ hệ khái niệm của người nói xanh lam lục, chính xanh lục mới là khái niệm có nhắc tới thời gian.

Goodman cho rằng câu trả lời nằm ở lịch sử sử dụng: những khái niệm đã được dùng thành công trong dự đoán trước đây được ưu tiên. Nhiều người thấy lời giải này cũng hơi vòng vo.

Những lời đáp hiện đại

Có nhiều cách đáp, không cách nào được chấp nhận chung. Hướng thực dụng của Hans Reichenbach nói: nếu tự nhiên có quy luật, quy nạp sẽ tìm ra nó; nếu không có, chẳng phương pháp nào thành công. Vậy quy nạp là đặt cược tốt nhất có thể.

Hướng xác suất và Bayes cho rằng ta không cần chứng minh quy nạp chắc chắn đúng, mà chỉ cần một quy tắc nhất quán để cập nhật niềm tin trước bằng chứng mới. Nhưng điểm xuất phát của niềm tin ban đầu vẫn cần biện minh.

Một số triết gia, như Peter Strawson, cho rằng hỏi quy nạp có hợp lý không là hỏi sai, vì chính việc dựa vào bằng chứng quá khứ là một phần định nghĩa của hợp lý.

Có lẽ đây là câu hỏi hiếm hoi mà gần ba trăm năm suy nghĩ vẫn chưa khép lại. Và mỗi sáng mở mắt, bạn vẫn tin mặt trời sẽ mọc, theo đúng cách mà Hume đã mô tả.

Câu hỏi thường gặp

Suy luận quy nạp khác suy luận diễn dịch thế nào?

Diễn dịch đi từ tiền đề tới kết luận một cách tất yếu: nếu tiền đề đúng thì kết luận phải đúng. Quy nạp đi từ những trường hợp đã quan sát tới khái quát hoặc dự đoán, nên kết luận chỉ có thể rất có khả năng, không tất yếu.

Vấn đề quy nạp có làm khoa học mất giá trị không?

Không. Nó chỉ cho thấy tri thức khoa học không chắc chắn tuyệt đối như toán học. Khoa học vẫn là cách đáng tin nhất ta có để dự đoán, và chính sự thừa nhận có thể sai là một phần sức mạnh của nó.

Hume còn nổi tiếng với ý tưởng nào khác?

Ông nổi tiếng với phân tích về nhân quả, cho rằng ta không quan sát được mối liên hệ tất yếu nào giữa nguyên nhân và kết quả, chỉ thấy chúng thường đi liền nhau. Ông cũng có ảnh hưởng lớn trong đạo đức học và triết học tôn giáo.

Kant phản ứng thế nào với Hume?

Kant nói rằng đọc Hume đã đánh thức ông khỏi giấc ngủ giáo điều. Ông cố trả lời bằng cách cho rằng một số khái niệm như nhân quả là khung mà tâm trí áp lên kinh nghiệm, chứ không rút ra từ kinh nghiệm.

Học máy có phải là một dạng quy nạp không?

Có. Một mô hình học từ dữ liệu quá khứ để dự đoán dữ liệu mới chính là quy nạp, và nó cũng gặp đúng vấn đề của Hume khi thế giới thay đổi khác với dữ liệu huấn luyện.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0888 831 183