NhaHocThuat.comNhà Học Thuật
Triết học khoa học

Khoa học tiến bộ thế nào: Popper, Kuhn và Lakatos tranh luận

Popper cho rằng khoa học tiến bộ nhờ đưa ra giả thuyết táo bạo rồi cố bác bỏ chúng; Kuhn cho rằng nó tiến qua các hệ hình; Lakatos dung hoà bằng ý tưởng chương trình nghiên cứu, tiến bộ khi dự đoán được điều mới và thoái hoá khi chỉ chạy theo vá lỗi.

Người leo núi bám vách đá vôi ven biển nhìn từ góc thấp

Khoa học tiến bộ theo cách nào là câu hỏi ba triết gia lớn trả lời khác nhau. Popper cho rằng nhờ phỏng đoán táo bạo và cố gắng bác bỏ. Kuhn cho rằng nhờ những cuộc cách mạng thay hệ hình. Lakatos cho rằng đơn vị đánh giá là cả một chương trình nghiên cứu: chương trình tiến bộ khi dự đoán trúng điều mới, thoái hoá khi chỉ lo vá víu để giải thích điều đã biết.

Chào bạn, đây là Nhà Học Thuật. Giữa thập niên sáu mươi, ở London, những tên tuổi lớn nhất của triết học khoa học ngồi chung một hội thảo và tranh luận nảy lửa. Tập này mình kể lại cuộc tranh luận ấy, không phải để chọn người thắng, mà để thấy mỗi người nhìn ra điều gì.

Popper: phỏng đoán và bác bỏ

Karl Popper, triết gia gốc Áo, viết cuốn sách nền tảng của mình bằng tiếng Đức giữa thập niên ba mươi, bản tiếng Anh ra đời cuối thập niên năm mươi. Ông bác bỏ hình ảnh nhà khoa học thu thập dữ kiện rồi rút ra định luật.

Theo Popper, khoa học bắt đầu bằng những phỏng đoán táo bạo, rồi đem chúng ra thử thách nghiêm khắc nhất có thể. Lý thuyết nào sống sót chưa được chứng minh là đúng, chỉ là chưa bị bác bỏ. Tiến bộ là thay lý thuyết bị bác bỏ bằng lý thuyết táo bạo hơn, nói nhiều hơn về thế giới.

Ông dùng tiêu chí có thể bị bác bỏ để phân định khoa học với những học thuyết tự nhận là khoa học nhưng giải thích được mọi kết quả. Theo ông, một số học thuyết xã hội và tâm lý thời ấy rơi vào loại này: chúng luôn tìm được cách giải thích mọi điều xảy ra, nên không bao giờ thua.

Hình ảnh nhà khoa học của Popper rất anh hùng: luôn sẵn sàng thấy mình sai.

Kuhn phản bác: nhà khoa học thật không làm vậy

Kuhn đáp rằng lịch sử không cho thấy nhà khoa học hành xử như Popper mô tả. Phần lớn thời gian, họ bảo vệ khung lý thuyết của mình, coi kết quả trái ngược là câu đố cần giải chứ không phải lý do bỏ lý thuyết.

Ông còn cho rằng nếu nhà khoa học bỏ lý thuyết ngay khi gặp một kết quả trái, khoa học sẽ không đi được đâu, vì lý thuyết nào khi mới ra đời cũng có những dị thường chưa giải thích được.

Popper không phủ nhận điều đó là thực tế. Ông cho rằng đó là thói xấu cần sửa, còn Kuhn cho rằng đó là đặc điểm làm khoa học hiệu quả.

Năm một nghìn chín trăm sáu mươi lăm, tại một hội thảo ở London, hai quan điểm đối mặt nhau. Các bài viết từ hội thảo được in thành sách vài năm sau, và một trong những bài quan trọng nhất là của Imre Lakatos.

Lakatos: lõi cứng và vành đai bảo vệ

Imre Lakatos, triết gia gốc Hungary, học trò rồi đồng nghiệp của Popper, muốn giữ tinh thần hợp lý của Popper mà vẫn tôn trọng lịch sử như Kuhn. Đơn vị đánh giá, theo ông, không phải một lý thuyết đơn lẻ mà là một chương trình nghiên cứu kéo dài.

Mỗi chương trình có một lõi cứng, những giả định nền tảng mà người theo chương trình quyết định không đụng tới. Xung quanh là vành đai bảo vệ, những giả thuyết phụ có thể sửa đổi khi gặp kết quả trái.

Câu hỏi là cách sửa ấy có tiến bộ không. Một chương trình tiến bộ khi những sửa đổi dẫn tới dự đoán mới, và một số dự đoán ấy được xác nhận. Nó thoái hoá khi chỉ vá víu sau sự việc, giải thích những gì đã biết mà không dự đoán thêm được gì.

Ví dụ Lakatos ưa dùng là sao chổi Halley. Dùng cơ học Newton, Edmond Halley dự đoán một sao chổi sẽ trở lại vào khoảng cuối thập niên năm mươi của thế kỷ mười tám. Ông mất trước đó, nhưng sao chổi trở lại đúng hẹn. Một dự đoán mới, táo bạo, được xác nhận: dấu hiệu của một chương trình tiến bộ.

Feyerabend: không có phương pháp nào cả

Bạn thân và người tranh luận với Lakatos là Paul Feyerabend, tác giả cuốn Chống lại phương pháp giữa thập niên bảy mươi. Ông cho rằng mọi quy tắc phương pháp luận đều từng bị các nhà khoa học vĩ đại vi phạm, và nếu tuân theo chúng, nhiều bước tiến lớn đã không xảy ra.

Ví dụ của ông là Galileo: khi bảo vệ thuyết Trái Đất quay, Galileo phải chống lại những bằng chứng quan sát tốt nhất thời ấy, và dùng cả tài hùng biện, chứ không chỉ dữ liệu.

Câu khẩu hiệu nổi tiếng của Feyerabend là gì cũng được. Ông về sau giải thích rằng đó là lời mỉa mai: nếu bạn đòi một quy tắc phổ quát, quy tắc duy nhất không bị lịch sử bác bỏ là gì cũng được.

Nhiều người đọc Feyerabend như kẻ chống khoa học. Đọc kỹ hơn, ông chống lại việc biến khoa học thành giáo điều, và đòi sự đa nguyên trong cách tiếp cận.

Hôm nay ta nghĩ gì về tiến bộ khoa học?

Ngày nay, ít triết gia khoa học theo trọn vẹn một trong bốn người. Nhiều người dùng mô hình xác suất kiểu Bayes để mô tả cách bằng chứng làm tăng hay giảm niềm tin vào lý thuyết, một cách tiếp cận mà cả bốn người đều không ưa.

Nhưng mỗi người để lại một bài học. Popper nhắc rằng lý thuyết nào không thể sai thì không nói được gì. Kuhn nhắc rằng khoa học là việc của cộng đồng, có truyền thống và sức ỳ. Lakatos nhắc rằng nên đánh giá cả một hướng đi qua thời gian, chứ đừng phán xét một lý thuyết sau một thí nghiệm.

Feyerabend nhắc rằng không nên dùng chữ khoa học như cây gậy để dập mọi ý kiến khác.

Có lẽ câu hỏi thực tế nhất bạn mang theo được là của Lakatos: một ý tưởng mình đang theo, nó vẫn còn dự đoán được điều mới, hay đã chuyển sang chỉ biết giải thích lại những gì đã xảy ra.

Câu hỏi thường gặp

Tiêu chí có thể bị bác bỏ có còn được dùng không?

Nó vẫn được dùng rộng rãi như một kiểm tra thô cho khoa học, nhất là để nhận ra những học thuyết giải thích được mọi thứ. Nhưng giới triết học thấy nó chưa đủ làm tiêu chí phân định duy nhất.

Chương trình nghiên cứu thoái hoá có nên bị bỏ ngay không?

Lakatos cho rằng không nhất thiết, vì một chương trình thoái hoá có thể hồi phục. Ông chỉ đòi các nhà khoa học trung thực ghi nhận tình trạng của chương trình mình theo.

Bayes trong triết học khoa học là gì?

Đó là cách dùng lý thuyết xác suất để mô tả cách bằng chứng nên thay đổi mức tin vào một giả thuyết. Một bằng chứng càng bất ngờ nếu giả thuyết sai thì càng làm tăng niềm tin vào giả thuyết khi nó xuất hiện.

Popper có liên quan gì tới chính trị không?

Popper cũng viết nhiều về triết học xã hội, bảo vệ ý tưởng một xã hội mở chấp nhận phê bình và sửa sai. Phần này thường được bàn tách khỏi triết học khoa học của ông.

Đọc Lakatos ở đâu?

Bài viết dài của ông về phương pháp luận các chương trình nghiên cứu khoa học, in trong tuyển tập từ hội thảo London, là văn bản chính. Lakatos còn có cuốn Chứng minh và bác bỏ về triết học toán học, viết dưới dạng đối thoại rất sinh động.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0888 831 183