NhaHocThuat.comNhà Học Thuật
Ngôn ngữ học

Thanh điệu tiếng Việt từ đâu mà có: phát hiện của Haudricourt

Thanh điệu tiếng Việt không có từ đầu. Năm một nghìn chín trăm năm mươi tư, nhà ngôn ngữ học André Haudricourt chứng minh chúng sinh ra từ những phụ âm cuối đã mất, rồi tách đôi theo phụ âm đầu, từ đó tiếng Việt cổ không thanh điệu thành sáu thanh ngày nay.

Bà cụ hát ru cháu trên võng trong nhà sàn gỗ

Thanh điệu tiếng Việt hình thành dần trong lịch sử, chứ không có sẵn từ đầu. Theo thuyết của nhà ngôn ngữ học Pháp André Haudricourt công bố năm một nghìn chín trăm năm mươi tư, tiếng Việt cổ không có thanh, rồi những âm cuối mất đi để lại dấu vết thành ba thanh, sau đó mỗi thanh lại tách đôi theo phụ âm đầu, tạo thành sáu thanh ngày nay.

Chào bạn, đây là Nhà Học Thuật. Mỗi ngày ta nói hàng nghìn tiếng có dấu mà ít khi tự hỏi dấu ấy từ đâu ra. Tập này mình kể một trong những phát hiện đẹp nhất về tiếng Việt, và vì sao nó cũng trả lời luôn câu hỏi tiếng Việt thuộc gia đình nào.

Một nghịch lý về nguồn gốc tiếng Việt

Đầu thế kỷ hai mươi, các học giả tranh luận tiếng Việt thuộc ngữ hệ nào. Một phần từ vựng rất lớn là từ Hán Việt vay mượn, nhưng vay mượn không quyết định gia đình. Nhiều từ cơ bản lại giống tiếng Mường, và có những từ giống các ngôn ngữ Môn Khmer như tiếng Khmer.

Học giả người Pháp Henri Maspero đầu thế kỷ hai mươi nghiên cứu kỹ ngữ âm lịch sử tiếng Việt. Ông thấy những nét giống Môn Khmer, nhưng lại xếp tiếng Việt gần các ngôn ngữ Thái, một lý do quan trọng là thanh điệu.

Lý do ấy nghe hợp lý: các ngôn ngữ Thái và tiếng Hán đều có thanh, trong khi tiếng Khmer và phần lớn ngôn ngữ Môn Khmer không có. Một ngôn ngữ có sáu thanh như tiếng Việt khó mà là họ hàng của những ngôn ngữ không có thanh nào.

Lập luận ấy chỉ đứng vững nếu thanh điệu là thứ cố định, không thể sinh ra trong lịch sử. Haudricourt chứng minh điều ngược lại.

Ba thanh sinh ra từ âm cuối đã mất

Haudricourt so sánh tiếng Việt với tiếng Mường và các ngôn ngữ Môn Khmer có quan hệ gần, rồi để ý những tương ứng có hệ thống giữa thanh điệu tiếng Việt và âm cuối của từ cùng gốc ở các ngôn ngữ kia.

Ý tưởng chính: tiếng Việt cổ, như họ hàng của nó, có những từ kết thúc bằng một tiếng tắc ở họng, và những từ kết thúc bằng âm h hoặc âm s. Theo thời gian, các âm cuối ấy yếu dần rồi mất, nhưng để lại dấu vết trên cách lên xuống của giọng.

Từ có âm tắc họng ở cuối sinh ra một kiểu thanh, nay ứng với nhóm thanh sắc và thanh nặng ở những từ không tận cùng bằng phụ âm tắc. Từ có âm h, s ở cuối sinh ra một kiểu thanh khác, nay ứng với nhóm thanh hỏi và thanh ngã. Từ không có các âm cuối ấy giữ giọng bằng, nay là thanh ngang và thanh huyền.

Vậy là ba thanh nguyên thuỷ. Thanh điệu không phải là thứ được thêm từ bên ngoài, mà là âm cuối hoá thân vào giọng.

Từ ba thanh thành sáu thanh

Bước thứ hai liên quan tới phụ âm đầu. Tiếng Việt cổ phân biệt phụ âm đầu hữu thanh như b, d, g với phụ âm đầu vô thanh như p, t, k. Khi phát âm phụ âm hữu thanh, dây thanh rung sớm và giọng có xu hướng thấp hơn một chút.

Về sau, khác biệt hữu thanh vô thanh ở phụ âm đầu bị nhập lại, nhưng độ cao của giọng mà nó gây ra thì ở lại. Mỗi thanh trong ba thanh nguyên thuỷ tách thành một nhánh cao và một nhánh thấp.

Kết quả là sáu thanh: ngang và huyền là cặp cao thấp của nhóm giọng bằng, sắc và nặng là cặp của nhóm tắc họng, hỏi và ngã là cặp của nhóm âm h, s. Cặp đôi hoá ra chính là cấu trúc mà các nhà thơ cổ đã cảm nhận khi chia thanh thành bằng và trắc.

Mô hình này giải thích được những tương ứng rất đều giữa tiếng Việt, tiếng Mường và các ngôn ngữ họ hàng, và về sau được dùng để giải thích sự hình thành thanh điệu ở nhiều ngôn ngữ khác trong khu vực, kể cả tiếng Hán cổ.

Tiếng Việt trở về gia đình Nam Á

Phát hiện của Haudricourt gỡ bỏ trở ngại lớn nhất trong việc xếp tiếng Việt vào ngữ hệ Nam Á. Nếu thanh điệu là sản phẩm muộn, thì việc tiếng Việt có thanh không còn mâu thuẫn với nguồn gốc Môn Khmer.

Những bằng chứng khác được củng cố: một số số đếm cơ bản của tiếng Việt như một, ba, bốn có những tương ứng với tiếng Khmer, và nhiều từ chỉ bộ phận cơ thể, cây cỏ, hoạt động thường ngày có gốc Nam Á. Đó là lớp từ cốt lõi ít khi vay mượn.

Ngày nay, đa số các nhà ngôn ngữ học xếp tiếng Việt cùng tiếng Mường và một số ngôn ngữ nhỏ vào nhánh Việt Mường của ngữ hệ Nam Á. Những gì tiếng Việt giống tiếng Thái, tiếng Hán được giải thích bằng tiếp xúc lâu dài trong cùng khu vực.

Đây là một bài học về phương pháp: một đặc điểm nổi bật bề mặt, như thanh điệu, có thể đánh lừa. Chỉ khi hỏi đặc điểm ấy đến từ đâu, ta mới thấy đúng quan hệ họ hàng.

Những gì còn đang được bàn

Thuyết của Haudricourt được chấp nhận rộng rãi về khung lớn, nhưng nhiều chi tiết vẫn được nghiên cứu tiếp. Ví dụ vì sao ở một số từ, thanh điệu không khớp hoàn toàn với dự đoán, hay quá trình diễn ra chính xác vào những thế kỷ nào.

Các phương ngữ cũng mang dấu vết lịch sử riêng. Nhiều vùng phía Nam và miền Trung không phân biệt rõ thanh hỏi và thanh ngã khi nói. Một số phương ngữ miền Trung có hệ thanh khác đáng kể so với tiếng Hà Nội.

Việc nghiên cứu các ngôn ngữ thiểu số họ hàng gần như tiếng Mường, tiếng Thổ, tiếng Chứt ở miền Trung Việt Nam tiếp tục cung cấp manh mối quý, vì chúng giữ những giai đoạn mà tiếng Việt đã đi qua.

Lần tới bạn ru con bằng một câu có đủ sáu thanh, bạn đang hát lên dấu vết của những âm cuối đã mất từ cả nghìn năm trước.

Câu hỏi thường gặp

Tiếng Việt có bao nhiêu thanh điệu?

Tiếng Việt chuẩn phía Bắc có sáu thanh: ngang, huyền, sắc, nặng, hỏi, ngã. Ở nhiều phương ngữ phía Nam, thanh hỏi và thanh ngã nhập làm một khi nói, nên còn năm thanh.

André Haudricourt là ai?

Ông là nhà ngôn ngữ học và nhà dân tộc học người Pháp, nghiên cứu nhiều ngôn ngữ ở Đông Á và Đông Nam Á. Ông nổi tiếng với các công trình về thanh điệu và về quan hệ giữa con người với cây trồng, vật nuôi.

Tiếng Mường có quan hệ thế nào với tiếng Việt?

Tiếng Mường và tiếng Việt cùng một tổ tiên gần, tách nhau cách nay chừng một nghìn năm, theo nhiều ước tính. Nhiều từ cơ bản của hai thứ tiếng rất giống nhau, chỉ khác ở một số phụ âm và thanh.

Bằng và trắc trong thơ liên quan gì tới thanh điệu?

Thanh bằng gồm ngang và huyền, thanh trắc gồm sắc, nặng, hỏi, ngã. Cách chia này phản ánh khá đúng cấu trúc lịch sử: hai thanh bằng xuất phát từ nhóm không có âm cuối đặc biệt.

Tiếng Khmer có thanh điệu không?

Tiếng Khmer chuẩn không có thanh điệu theo nghĩa như tiếng Việt, mà phân biệt nghĩa bằng nguyên âm và các kiểu giọng khác. Đó là lý do việc tiếng Việt có thanh từng gây khó cho giả thuyết về nguồn gốc chung.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0888 831 183