Bi kịch của cái chung là ý tưởng rằng một tài nguyên ai cũng dùng được, như bãi cỏ chung hay ngư trường, sẽ bị khai thác cạn kiệt vì mỗi người đều có lợi khi lấy thêm, còn thiệt hại chia cho tất cả. Elinor Ostrom chỉ ra rằng kết cục ấy không tất yếu: nhiều cộng đồng trên thế giới đã tự đặt luật, tự giám sát và giữ được tài nguyên chung qua nhiều thế hệ.
Chào bạn, đây là Nhà Học Thuật. Năm hai nghìn không trăm linh chín, lần đầu tiên một phụ nữ nhận giải Nobel kinh tế, và bà lại là một nhà khoa học chính trị đi thực địa nhiều hơn ngồi giải phương trình. Tập này mình kể vì sao công trình của bà quan trọng.
Bãi cỏ của Hardin
Năm một nghìn chín trăm sáu mươi tám, nhà sinh thái học Garrett Hardin viết một bài báo ngắn trên tạp chí Science, mở bằng hình ảnh một bãi cỏ chung của làng. Mỗi người chăn thả hỏi: có nên thả thêm một con bò không.
Lợi của con bò thêm thuộc trọn về người ấy. Thiệt hại của việc cỏ bị gặm trụi thì chia cho mọi người. Vậy ai cũng thả thêm, và bãi cỏ bị phá huỷ. Hardin gọi đó là bi kịch, theo nghĩa một kết cục không tránh được.
Từ đó hình thành một niềm tin phổ biến: tài nguyên chung chỉ có hai lối thoát, hoặc chia cho tư nhân để mỗi người tự lo phần mình, hoặc để nhà nước quản lý từ trên xuống.
Cấu trúc này giống thế lưỡng nan người tù với nhiều người chơi, và nó thật sự xảy ra ở nhiều nơi, từ ngư trường bị đánh bắt cạn tới mạch nước ngầm bị hút quá mức.
Ostrom đi tìm những nơi bi kịch không xảy ra
Elinor Ostrom đặt một câu hỏi khác: có những cộng đồng nào đã dùng chung tài nguyên lâu dài mà không gặp bi kịch không. Câu trả lời là có rất nhiều.
Bà và cộng sự tập hợp hàng trăm nghiên cứu tình huống. Những đồng cỏ trên núi ở một làng Thuỵ Sĩ được quản lý chung qua nhiều thế kỷ. Rừng làng ở Nhật Bản được giữ qua nhiều đời. Hệ thống mương tưới ở vùng Valencia của Tây Ban Nha có toà án nước họp định kỳ để phân xử tranh chấp, theo truyền thống rất lâu đời.
Bà cũng ghi nhận những chỗ thất bại, và so sánh để tìm ra điều gì phân biệt cộng đồng thành công với cộng đồng thất bại.
Kết quả được trình bày trong cuốn sách năm một nghìn chín trăm chín mươi, thường được dịch là Quản trị cái chung. Đây là một công trình hiếm hoi kết hợp lý thuyết trò chơi, nghiên cứu thực địa và thí nghiệm.
Tám nguyên tắc thiết kế
Ostrom rút ra tám đặc điểm thường thấy ở các cộng đồng tự quản bền vững. Ranh giới rõ ràng: ai được dùng, dùng vùng nào. Luật lệ hợp với điều kiện địa phương, không áp một mẫu cho mọi nơi.
Những người chịu luật được tham gia sửa luật. Có người giám sát, và người giám sát chịu trách nhiệm trước cộng đồng. Người vi phạm bị xử theo mức tăng dần: lần đầu nhắc nhở nhẹ, tái phạm mới phạt nặng.
Có cách giải quyết tranh chấp nhanh và rẻ. Chính quyền bên ngoài thừa nhận quyền tự tổ chức của cộng đồng. Và với tài nguyên lớn, các cấp quản lý lồng vào nhau, từ nhóm nhỏ tới vùng rộng.
Điều đáng chú ý là các nguyên tắc này nói về thể chế, không về lòng tốt. Ostrom không giả định con người vị tha. Bà chỉ ra rằng khi luật chơi được thiết kế đúng, người bình thường có thể hợp tác.
Không có thuốc chữa bách bệnh
Một thông điệp xuyên suốt của Ostrom là chống lại những giải pháp một kiểu cho mọi nơi. Tư nhân hoá có thể tốt ở chỗ này, quản lý nhà nước tốt ở chỗ kia, cộng đồng tự quản tốt ở chỗ khác. Điều cần là chẩn đoán tình huống cụ thể.
Bà cũng cảnh báo rằng can thiệp từ ngoài vào có thể phá vỡ những thể chế địa phương đang vận hành tốt. Khi một nhà nước quốc hữu hoá rừng làng mà không đủ sức bảo vệ, rừng có thể bị tàn phá nhanh hơn, vì luật cũ của làng đã mất hiệu lực mà luật mới chưa tới nơi.
Ở nhiều nước, kể cả một số đầm phá và vùng ven biển của Việt Nam, đã có những mô hình để cộng đồng ngư dân tham gia quản lý cùng chính quyền. Kinh nghiệm cho thấy thành bại phụ thuộc rất nhiều vào chi tiết thiết kế, đúng như Ostrom nói.
Bà còn đưa ra một bộ khung phân tích lớn hơn để nghiên cứu các hệ sinh thái xã hội, nhằm tránh việc mỗi ngành nhìn một mảnh.
Giải Nobel và di sản
Năm hai nghìn không trăm linh chín, Ostrom nhận giải Nobel kinh tế cùng Oliver Williamson, người nghiên cứu vì sao một số giao dịch diễn ra trong thị trường còn số khác diễn ra trong doanh nghiệp. Bà là người phụ nữ đầu tiên nhận giải này.
Một số nhà kinh tế khi ấy ngạc nhiên vì bà không được đào tạo chính quy trong ngành. Nhưng chính góc nhìn liên ngành ấy là lý do công trình của bà mở được cánh cửa mà mô hình thuần tuý đóng lại.
Bà qua đời năm hai nghìn không trăm mười hai. Những ý tưởng của bà hiện được dùng trong quản lý nghề cá, rừng, thuỷ lợi, và cả với tài nguyên kiểu mới như tri thức mở trên mạng.
Lần tới bạn thấy một nhóm chung, từ nhóm cư dân chung cư tới nhóm làm việc, dùng chung một thứ gì đó mà không ai phá, thử hỏi họ đang giữ luật chơi nào mà không ai viết thành văn.
Câu hỏi thường gặp
Bi kịch của cái chung có luôn xảy ra không?
Không. Nó xảy ra khi tài nguyên mở cho mọi người mà không có luật lệ, giám sát hay chế tài. Khi một cộng đồng có thể đặt và thực thi luật, nhiều tài nguyên chung được giữ bền vững.
Tài nguyên chung khác hàng hoá công cộng thế nào?
Tài nguyên chung là thứ mà người này dùng thì người khác bớt đi, như cá trong hồ. Hàng hoá công cộng thì người này dùng không làm người khác bớt, như ánh đèn hải đăng. Hai loại cần cách quản lý khác nhau.
Elinor Ostrom học ngành gì?
Bà được đào tạo về khoa học chính trị và giảng dạy nhiều năm ở Đại học Indiana, nơi bà cùng chồng lập một trung tâm nghiên cứu liên ngành về thể chế và chính sách.
Vì sao xử phạt tăng dần lại hiệu quả?
Vì phần lớn vi phạm là nhỏ và do hoàn cảnh, phạt nặng ngay dễ làm mất lòng tin và gây oán giận. Phạt nhẹ trước vừa nhắc chuẩn mực, vừa cho người vi phạm cơ hội sửa, còn tái phạm mới bị xử nặng.
Ý tưởng của Ostrom dùng được cho biến đổi khí hậu không?
Bà gợi ý nên kết hợp nhiều cấp hành động, từ địa phương tới quốc tế, thay vì chỉ chờ một hiệp định toàn cầu. Việc áp dụng cụ thể vẫn đang được nghiên cứu và tranh luận.