Câu ta tư duy vậy ta tồn tại không phải một lời khoe về trí tuệ, mà là kết quả của một cuộc nghi ngờ có chủ đích. Descartes thử nghi ngờ mọi thứ có thể nghi ngờ, và ông nhận ra có một điều không nghi ngờ được: ngay lúc đang nghi ngờ, phải có một ai đó đang nghi ngờ.
Chào bạn, đây là Nhà Học Thuật. Tập này mình đi chậm qua lập luận nổi tiếng nhất của triết học cận đại, xem nó đứng vững ở đâu, nó thật sự chứng minh được bao nhiêu, và vì sao gần bốn thế kỷ sau người ta vẫn còn cãi nhau về cái giá mà nó để lại.
Vì sao Descartes lại muốn nghi ngờ tất cả?
René Descartes sống ở nửa đầu thế kỷ mười bảy, thời mà tri thức châu Âu đang lung lay. Nhiều điều học trong trường hoá ra sai trước khoa học mới. Ông muốn một thứ tri thức đứng được trên nền đá chứ không phải trên cát.
Hình ảnh ông hay được nhắc là cái giỏ táo. Nếu nghi trong giỏ có quả thối, cách chắc nhất không phải là nhặt từng quả ra ngửi, mà là đổ hết ra, rồi chỉ bỏ vào lại những quả mình chắc là lành. Nghi ngờ ở đây là một phương pháp, không phải một thái độ sống.
Điều quan trọng là Descartes không thật sự tin rằng thế giới là ảo. Ông giả định như thế để thử sức chịu đựng của niềm tin. Một niềm tin vượt qua được cả những giả định tệ nhất thì mới đáng làm nền móng.
Ông trình bày cuộc thử này rõ nhất trong cuốn sách thường được dịch là Suy ngẫm về triết học tiên khởi, viết như lời một người tự vấn qua sáu ngày, mời người đọc cùng làm lại cuộc nghi ngờ.
Ba tầng nghi ngờ: giác quan, giấc mơ và ác thần
Tầng thứ nhất là giác quan. Cây gậy cắm xuống nước trông như gãy, tháp vuông nhìn từ xa thành tròn. Giác quan đã lừa ta vài lần thì không nên tin tuyệt đối. Nhưng tầng này còn yếu: lừa ở chuyện xa và nhỏ chưa chắc lừa cả việc ta đang ngồi đây.
Tầng thứ hai sâu hơn: giấc mơ. Đã bao lần bạn mơ thấy mình đang ngồi đọc sách, rõ ràng như thật. Vậy lấy dấu hiệu nào để chắc lúc này không phải mơ. Descartes kết luận là không có dấu hiệu chắc chắn nào. Nhưng ngay cả trong mơ, hai cộng ba vẫn là năm, hình vuông vẫn có bốn cạnh. Toán học có vẻ vẫn còn đứng.
Tầng thứ ba mới là cú đẩy cuối: giả sử có một ác thần cực kỳ quyền năng, dồn hết sức để lừa ta, đến mức mỗi lần ta cộng hai với ba nó lại khiến ta tin sai. Giả định kỳ quặc này tách hẳn niềm tin ra khỏi mọi bảo đảm bên ngoài.
Câu hỏi thế giới mô phỏng ngày nay giữ gần nguyên cấu trúc ấy, chỉ thay ác thần bằng một cỗ máy.
Điểm tựa không lung lay nằm ở đâu?
Khi mọi thứ đã bị đổ ra khỏi giỏ, Descartes nhận ra một điều: ác thần có thể lừa ta về mọi nội dung, nhưng để bị lừa thì ta phải đang nghĩ. Không ai có thể nghi ngờ mà không có người nghi ngờ.
Câu nổi tiếng bằng tiếng Pháp xuất hiện trong Luận về phương pháp, còn bản tiếng La tinh quen thuộc xuất hiện về sau. Trong cuốn Suy ngẫm, ông nói theo lối khác, đại ý mỗi khi ta nghĩ đến hay nói ra rằng ta là, ta tồn tại, thì điều đó tất yếu đúng.
Cần để ý cái mà lập luận này chứng minh được rất hẹp. Nó cho ta biết có một cái gì đó đang suy nghĩ. Nó chưa cho biết cái đó có thân thể không, có ai khác bên cạnh không. Từ điểm tựa nhỏ ấy, Descartes phải xây lại cả thế giới.
Người đời sau còn hỏi khó hơn: làm sao chắc có một chủ thể bền vững, chứ không chỉ là đang có suy nghĩ diễn ra. Câu hỏi đó vẫn chưa có lời đáp chung.
Từ điểm tựa ấy, Descartes dựng lại thế giới ra sao?
Bước tiếp theo của ông gây tranh cãi nhiều hơn hẳn. Descartes đưa ra lập luận rằng trong ta có ý niệm về một đấng hoàn hảo, và một ý niệm như thế không thể do một sinh vật bất toàn tự tạo ra. Từ đó ông suy ra có Thượng đế, và một đấng hoàn hảo thì không lừa dối, nên những gì ta nhận thức một cách rõ ràng và phân minh là đáng tin.
Ngay thời ông, đã có người chỉ ra một vòng lặp, sau này thường gọi là vòng tròn Descartes. Ông dùng sự rõ ràng phân minh để chứng minh Thượng đế, rồi lại dùng Thượng đế để bảo đảm cho sự rõ ràng phân minh.
Giới nghiên cứu Descartes đến nay vẫn tranh luận ông có thật sự rơi vào vòng lặp hay không, và có nhiều cách đọc gỡ cho ông. Điều chắc chắn là phần phá trong triết học của ông thuyết phục hơn nhiều so với phần dựng.
Lịch sử tư tưởng hay lặp lại bài học này: một câu hỏi sắc nhiều khi sống lâu hơn lời giải của chính người đặt ra nó.
Câu hỏi tâm và thân mà Descartes để lại
Vì cái đang suy nghĩ được biết chắc hơn thân thể, Descartes đi đến chỗ xem tâm trí và vật chất là hai loại thực thể khác nhau. Vật chất có kích thước, chiếm chỗ. Tâm trí thì suy nghĩ, không chiếm chỗ. Quan điểm này gọi là thuyết nhị nguyên.
Người hỏi khó ông sắc nhất lại là một người trẻ: công chúa Elisabeth xứ Bohemia. Trong thư từ với ông, bà hỏi thẳng một thứ không có kích thước, không chạm được vào đâu, thì làm sao đẩy được cánh tay cử động. Descartes trả lời vòng vo, có chỗ nhắc tới tuyến tùng trong não như nơi hai bên gặp nhau.
Câu hỏi đó chưa bao giờ biến mất. Khoa học thần kinh ngày nay phần lớn không còn chấp nhận hai thực thể tách rời, nhưng câu hỏi vì sao hoạt động của não lại đi kèm cảm giác chủ quan thì vẫn còn đó, dưới tên gọi mới là bài toán khó của ý thức.
Lần tới bạn chợt tự hỏi mình có đang mơ không, hãy nhớ rằng câu hỏi ấy đã từng là viên gạch đầu tiên của cả một nền triết học.
Câu hỏi thường gặp
Descartes có thật sự tin rằng thế giới là ảo không?
Không. Nghi ngờ của ông là một phương pháp thử, giống như giả định trường hợp xấu nhất để kiểm tra độ bền của niềm tin. Mục đích cuối cùng của ông là dựng lại tri thức chắc chắn, kể cả tri thức về thế giới vật chất.
Lập luận ta tư duy vậy ta tồn tại có phải là một phép suy luận không?
Giới nghiên cứu còn bàn về điểm này. Có người đọc nó như một suy luận rút gọn, có người đọc nó như một trực giác tự hiển nhiên mỗi khi ta nghĩ. Chính Descartes có những đoạn viết nghiêng về cách đọc thứ hai.
Thuyết nhị nguyên của Descartes còn ai theo không?
Nhị nguyên theo nghĩa hai thực thể tách rời hiện ít được giới triết học tâm trí ủng hộ. Tuy vậy một số dạng nhị nguyên nhẹ hơn, cho rằng trải nghiệm chủ quan không quy hết được về vật lý, vẫn có những người bảo vệ nghiêm túc.
Vì sao Descartes được gọi là cha đẻ triết học cận đại?
Vì ông chuyển trọng tâm của triết học sang câu hỏi ta biết được gì và biết bằng cách nào, bắt đầu từ chủ thể đang suy nghĩ thay vì từ uy tín của sách cổ. Cách đặt vấn đề này chi phối triết học châu Âu suốt nhiều thế kỷ sau.
Ngoài triết học, Descartes còn đóng góp gì?
Ông là người đặt nền cho hình học giải tích, tức cách dùng hệ trục toạ độ để chuyển bài toán hình học thành bài toán đại số. Hệ trục mà học sinh vẫn vẽ trên giấy kẻ ô ngày nay mang tên ông.