Lòng vị tha giữa những kẻ không cùng huyết thống có thể tiến hoá khi việc giúp đỡ được đáp trả về sau. Nếu hai bên gặp nhau nhiều lần, nhớ được ai đã giúp ai, và kẻ gian lận bị nhận ra, thì hợp tác có lợi hơn ích kỷ về lâu dài. Danh tiếng và trừng phạt mở rộng cơ chế ấy ra cả cộng đồng.
Chào bạn, đây là Nhà Học Thuật. Tập trước mình nói về lòng hy sinh cho họ hàng. Nhưng con người, và cả vài loài vật, giúp cả những kẻ không có chung giọt máu nào. Tập này mình kể các nhà sinh học và nhà lý thuyết trò chơi đã giải thích điều đó thế nào.
Vị tha có đi có lại
Năm một nghìn chín trăm bảy mươi mốt, nhà sinh học Robert Trivers công bố bài báo về vị tha có đi có lại. Ý tưởng: giúp một kẻ không họ hàng có thể có lợi, nếu kẻ ấy có khả năng giúp lại mình sau này, và cái giá mình bỏ ra nhỏ hơn cái lợi mình nhận về.
Điều kiện then chốt là hai bên phải gặp lại nhau, phải nhận ra nhau, và phải có cách nào đó để không tiếp tục giúp kẻ chỉ nhận mà không trả.
Trivers còn gợi ý rằng nhiều cảm xúc của con người, như biết ơn, phẫn nộ khi bị lừa, cảm giác tội lỗi, có thể đã tiến hoá như những công cụ giữ cho trao đổi qua lại vận hành.
Đây là một giả thuyết táo bạo và khó kiểm chứng trực tiếp, nhưng nó mở ra cả một hướng nghiên cứu về nền tảng sinh học của đạo đức.
Ví dụ ở loài vật: dơi chia máu và cá dọn vệ sinh
Ví dụ kinh điển là loài dơi hút máu ở châu Mỹ. Một con dơi không kiếm được bữa trong vài đêm liền có thể chết đói. Những con no thường nhả máu chia cho con đói. Các nghiên cứu thực địa cho thấy chúng chia nhiều hơn cho những con từng chia cho mình.
Một ví dụ khác là cá dọn vệ sinh ở rạn san hô, ăn ký sinh trùng trên cá lớn. Cá dọn đôi khi gian lận bằng cách cắn lớp nhầy bổ dưỡng của khách. Khách bị cắn thì bỏ đi hoặc đuổi theo. Cá dọn cư xử tốt hơn khi có những khách khác đang nhìn.
Nhưng giới nghiên cứu cũng thận trọng. Nhiều ví dụ từng được nêu là vị tha có đi có lại hoá ra giải thích được bằng chọn lọc họ hàng hoặc bằng lợi ích trước mắt. Vị tha có đi có lại thật sự, theo nghĩa chặt, có vẻ hiếm ở loài vật.
Có lẽ vì nó đòi khả năng nhận diện cá thể và trí nhớ tốt, những điều không phải loài nào cũng có.
Giải đấu của Axelrod và chiến lược ăn miếng trả miếng
Đầu thập niên tám mươi, nhà khoa học chính trị Robert Axelrod mời các nhà nghiên cứu gửi chương trình máy tính chơi thế lưỡng nan người tù lặp lại nhiều vòng. Mỗi vòng, hai bên chọn hợp tác hay phản bội, và phản bội luôn có lợi hơn trong một vòng đơn lẻ.
Chiến lược thắng lại là chiến lược đơn giản nhất, do nhà toán học Anatol Rapoport gửi: ăn miếng trả miếng. Vòng đầu hợp tác, các vòng sau làm đúng điều đối phương làm ở vòng trước.
Axelrod rút ra mấy phẩm chất của chiến lược thành công: tử tế, tức không phản bội trước; biết đáp trả, tức không để bị lợi dụng mãi; biết tha thứ, tức quay lại hợp tác khi đối phương quay lại; và rõ ràng, để đối phương hiểu được mình.
Về sau, các mô hình phức tạp hơn cho thấy khi có nhiễu, tức thỉnh thoảng hành động bị hiểu nhầm, những chiến lược rộng lượng hơn một chút, hay biết tha thứ một lần lỡ tay, thường làm tốt hơn ăn miếng trả miếng thuần tuý.
Danh tiếng: giúp người lạ để người khác thấy
Con người giúp cả những người mà mình sẽ không bao giờ gặp lại. Lý thuyết có đi có lại trực tiếp không giải thích được chuyện này. Một bổ sung quan trọng là vị tha gián tiếp: giúp người khác làm tăng danh tiếng của mình, và những người có danh tiếng tốt được người khác giúp.
Martin Nowak và Karl Sigmund, cuối thập niên chín mươi, xây mô hình cho thấy cơ chế này hoạt động được nếu thông tin về danh tiếng lan truyền đủ tốt. Ngôn ngữ, và nhất là chuyện ngồi lê đôi mách, trở thành công cụ giữ cho hợp tác vận hành ở quy mô lớn.
Các thí nghiệm kinh tế học hành vi cũng cho thấy con người sẵn lòng chịu thiệt để trừng phạt kẻ gian lận, ngay cả khi không được lợi gì. Những người trừng phạt như vậy giúp duy trì hợp tác trong nhóm.
Tại sao con người lại sẵn lòng trừng phạt có tốn kém như thế thì vẫn đang tranh luận: có người giải thích bằng danh tiếng, có người viện dẫn chọn lọc giữa các nhóm và tiến hoá văn hoá.
Giới hạn của giải thích tiến hoá
Một điều cần phân biệt: giải thích vì sao một khuynh hướng tiến hoá được không có nghĩa là mỗi hành động tốt đều là toan tính ngầm. Khi bạn giúp một người lạ, bạn không tính danh tiếng trong đầu. Giải thích tiến hoá trả lời câu hỏi vì sao loài người có khuynh hướng ấy, không phải vì sao bạn làm điều đó lúc này.
Các nhà sinh học gọi đây là phân biệt nguyên nhân tối hậu và nguyên nhân trực tiếp. Lòng trắc ẩn mà bạn cảm thấy là nguyên nhân trực tiếp, thật sự và chân thành. Lịch sử tiến hoá của nó là nguyên nhân tối hậu.
Cũng cần thận trọng với những câu chuyện tiến hoá nghe hợp lý mà không kiểm chứng được. Giới khoa học hay gọi đùa đó là truyện vì sao, nhắc rằng một giải thích đẹp chưa phải là bằng chứng.
Có lẽ điều đáng nghĩ nhất là: một quá trình mù quáng như chọn lọc tự nhiên lại có thể tạo ra những sinh vật biết thương người lạ.
Câu hỏi thường gặp
Vị tha có đi có lại khác giao dịch buôn bán thế nào?
Trong vị tha có đi có lại, việc giúp đỡ và việc đáp trả cách nhau một khoảng thời gian, và không có hợp đồng nào bảo đảm. Chính rủi ro bị quỵt này làm cho việc nhận ra kẻ gian lận trở nên quan trọng.
Thế lưỡng nan người tù là gì?
Đó là tình huống trong đó mỗi bên được lợi hơn nếu phản bội, bất kể bên kia làm gì, nhưng nếu cả hai cùng phản bội thì cả hai đều thiệt hơn so với cùng hợp tác. Nó là mô hình kinh điển cho xung đột giữa lợi ích cá nhân và lợi ích chung.
Loài vật có trừng phạt kẻ gian lận không?
Có những ví dụ, như cá khách đuổi cá dọn vệ sinh cắn bậy, hay một số loài côn trùng xã hội phá trứng do thợ đẻ lén. Mức độ phổ biến và cơ chế của chúng vẫn đang được nghiên cứu.
Tiến hoá văn hoá liên quan gì tới hợp tác?
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng chuẩn mực, luật lệ và thể chế, vốn truyền qua học hỏi chứ không qua gen, giúp con người hợp tác ở quy mô mà gen một mình không giải thích được. Mức đóng góp của văn hoá so với gen vẫn còn tranh luận.
Đọc gì để hiểu thêm về tiến hoá của hợp tác?
Cuốn Sự tiến hoá của hợp tác của Robert Axelrod là tác phẩm dễ đọc và kinh điển. Các chương về vị tha trong sách của Dawkins cũng là điểm khởi đầu tốt.